Bảo quản và phơi sấy gỗ

Dầu crêozôt, một chất lỏng màu đen hoặc nâu là chất chống mục, mối và mọt tốt ít bị nước rửa trôi, không hút ẩm, không bay hơi, không phá hoại gỗ và kim loại, có thể cháy, khó thấm vào gỗ (chỉ được 1 – 2mm), mùi hắc, tạo ra trên mặt gỗ một lớp bền làm gỗ khó khô. Khi dùng crêozôt phải đun nóng đến 50 – 60°c.
Không nên dùng dầu crêozot để tẩm gỗ bên trong nhà và kho thực phẩm, công trình ngầm và nhửng kết cấu gần nguồn cháy.
Dầu antraxen là một chất lỏng xanh vàng, có tác dụng chống mục, mối, mọt mạnh; bay hơi chậm, ngâm chiết kiềm yếu, không phá hoại gỗ và kim loại. Dầu antraxen được sản xuất từ guđrông than đá. Tính chất và phạm vi sử dụng của nó giống như crêozôt.
Bộì nhão được phân ra loại bitum và loại silicat:
Bột nhão bitum gồm có 30 – 50% florua natri, 5 – 7% bột than bùn, khoảng 30% bitum dầu lửa mác III và IV và khoảng 30% dầu xanh. Loại này dễ cháy, bền nước, có mùi khó chịu. Bột nhão bitum được dùng để sơn quét các chi tiết nằm trong môi trường ẩm ướt, trong lòng đất hoặc lộ thiên. Bột nhão silicat chứa khoảng 15 – 20% flosilicat na tri, 65 – 80% thuỷ tinh lỏng, 1 – 2% dầu crêozôt và đến 20% nước. Bột nhão silicat không bền nước và không cháy. Nó được sử dụng trong xây dựng công nghiệp và xây dựng nhà ở cho những nơi khô ráo.
Các phương pháp sử dụng thuốc là quét hoặc phun, tẩm trong bể nóng – lạnh hoặc trong bể có nhiệt độ cao, tẩm dưới áp lực, v.v…
Quét hoặc phun có tác dụng bảo vệ trên bề mặt
Tẩm gỗ trong bể nóng – lạnh bằng các loại thuốc muối và thuốc dầu được tiến hành như sau: đầu tiên ngâm gỗ trong bể chứa dung dịch thuốc có nhiệt độ đến 98°c và giữ trong 3-5 giờ, sau đó chuyển sang bể lạnh có nhiệt độ của dung dịch muối tan là 15
20 c và của chất dầu là 40 – 60°c.
Phương pháp này có hiệu quả khi tẩm gỗ đã được sấy khô đến mức độ ẩm của lớp gỗ bìa không lớn hơn 30%.
Tẩm gỗ trong bể có nhiệt độ cao (chứa petrolatum) dùng để bảo quản gỗ ướt. Gỗ được ngâm vào bể chứa petrolatum chảy lỏng có nhiệt độ 120 – 140°c và giữ một thời gian để nung và sấy nóng, sau đó chuyển sang bể lạnh chứa thuốc dầu có nhiệt độ 65 – 75°c và giữ 24 – 28 giờ.
Tấm gỗ dưới áp lực tiến hành trong nổi thóp hỉnh trụ (nồi chưng) chứa thuốc thuốc dầu với áp lực làm Việc 6 – 8 at đầu tiên người ta chất gỗ xẻ vào nồi chưng kín để lạo chân không sau đó bơm thuộc vào và nâng cấp lực lên 6 – 8 at. rồi hấp thụ áp lực xuống áp lực bình thường, rút thuốc thừa về rỡ gỗ tẩm ra.
Khi tẩm cỏ bàng thuốc dầu cần phải đun thuốc trước đế nhiệt độ (rong thùng khi tim không thấp hơn  nhiệt độ quy định.
//.5.2. Phòng chống hà
Để phòng chông hà người ta thường dùng các biện pháp sau: 1) Dùng gỗ cứng (thiết mộc), gỗ dẻo quánh (lếch)» sỏ có nhựa (bạch đùn) v.v… Những loại gỗ cứng, quánh làm hà khó đục, hoặc vì sợ nhựa hà khổng bám vào; 2) Để nguyên lớp vỏ cây; 3) Bọc ngoài gỏ một lớp vỏ kim loại; 4) Bọc kết gỗ bằng ống ximăng, ống sành; 5) Dùng crêozôt, C11SO4, v.v…
Ở nước ta còn dùng phương pháp cổ truyền là thui cho gổ cháy xém một lớp mỏng bên ngoài. Phương pháp này sau 3 năm phải thui lại.
11.5.3. Bảo quản và phơi sấy gỗ
Sấy gỗ là biện pháp làm giảm độ ẩm của gỗ, ngủn ngừa mục nát, tăng cường độ, hạn chế sự thay đổi kích thước và hình dáng trong quá trình sử dụng. Các biện pháp sấy gỗ được sử dụng là sấy tự nhiên, sấy phòng, sấy điện, sấy trong chất lỏng đun nóng. Trong đó sấy tự nhiên và sấy phòng là chủ yếu.
Sấy tự nhiên được tiến hành ở ngoài trời; dưới mái che hoặc trong kho kín. Tuỳ theo ihời tiết, thời gian sấy đổ hạ độ ẩm từ 60% xuống 20% dao động trong khoảng 15-60 ngày. Sấy lự nhiên không đòi hỏi trang thiết bị đặc biệt, không tiêu tốn nhiên liệu và điện nâng. Nhưng sấy tự nhiên có nhược điểm: cần diện tích lớn, phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, không loại trừ được mục, chỉ sấy được đến độ ẩm nhất định.
Sấy phòng được tiến hành trong phòng sấy riêng có không khí nóng ẩm hoặc khí lò hơi có nhiột độ 40 – 105°c. Trong sấy phòng với một chế độ sấy thích hợp cho phép rút ngán thời gian sấy mà gỗ không bị cong vênh, nứt tách; giảm thấp độ ẩm của gỗ (nhỏ hơn 16%). Nhược điếm của sấy phòng là phải có thiết bị và phòng sấy, chi phí nhiều nhiên liệu điện năng và nhân lực.
11.6. Vật liệu và sản phẩm gỗ
/1.6.1. Gỗ tròn (gổ súc)
Đường kính gỗ tròn phải đo theo đâu nhỏ, không kể vỏ và là trung bình cộng của hai đường kính vuông góc với nhau. Chiều dài gỗ tròn lấy theo chiều dài chỏ ngán nhất.
Gỗ tròn đôi với các loại cây lá rộng, theo TCVN 1073 : 1971, dược chia làm bôn hạng theo đường kính và chiều dài như quy định trong bảng 11.3.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *