Độ co ngót của gỗ là độ giảm kích thước và thể tích khi sấy khô

Độ co ngót của gỗ là độ giảm kích thước và thể tích khi sấy khô. Nước mao quản bay hơi không làm cho gỗ co. Co chỉ xảy ra khi mất nước hấp phụ. Khi đó chiều dày vỏ tế bào giảm đi, các mixen xích lại gần nhau làm cho kích thước của gỗ giảm.
Do cấu tạo không đồng nhất nên độ co theo các phương cũng khác nhau: co dọc thớ:
0, 1 – 0,3%; co pháp tuyến: 3 – 6%; co tiếp tuyến: 7 – 12%.
Độ co của gỗ (%) theo các phương dọc thớ gỗ, pháp tuyến yf, tiếp tuyến ytđ được xác định theo công thức:
y<j = ————100%
yf = 100%
bi
c — Cl
y, = —-i 100%
C|
a, b, c – kích thước của gỗ theo các phương dọc thớ, pháp tuyến và tiếp tuyến trước khi sấy khô;
ai, b|, Cị – sau khi sấy đến trạng thái khô tuyệt đối.
Mức độ co thể tích y0 (%) được xác định dựa theo thể tích của mẫu gỗ trước khi sấy (V) và sau khi sấy khô (V|) theo công thức:
V – V, y0 = — ■ 1 100%
Hệ số co thể tích Ko (đối với gỗ lá kim: 0,5; gỏ lá rộng: 0,6) được xác định theo công thức:
Trong đó: w – độ ẩm của gỗ (%), khổng được vượt quá giới hạn bão hoà thớ. Sự thay đổi kích thước theo các phương không giống nhau sẽ sinh ra những ứng suất khác nhau khiến cho gỗ bị cong vênh và xuất hiện những vết nút.
Truong nở là khả năng của gỗ tăng kích thước và thể tích khi hút nước vào thành tế bào. Gỗ bị trương nở khi hút nuớc đến giới hạn bão hoà thớ. Trương nở cũng giống như co ngót, không giống nhau theo các phương khác nhau (hình 11.6): dọc thớ 0,1 – 0,8%; pháp tuyến: 3 – 5%; tiếp tuyến: 6 I 12%.
Hậu quả của sự co ngót và trương nở là sự cong vênh và nứt tách vật liệu gỗ. Sự cong vênh các sản phẩm gỗ (hình 11.7) là kết quả của sự co ngót không đều, trong phương tiếp tuyến và pháp tuyến và sự mất nước khồng đều. Sự co ngót không đều và sự cong vênh gây ra nội ứng suất làm nứt tách gỗ xẻ và gỗ tròn. Tấm xẻ càng rộng cong vênh càng nhiéu. Vì vậy chiêu rộng của tấm lát sàn nên 10 1 12cm.
Hình 11.7. Sự cong vênh cứa gỗ xẻ
a) Dọc thớ; 1, Đơn giản; 2. Phức tạp;
b) Ngang thớ; c) Vênh.
Để hạn chế cong vênh và nứt tách nôn sử dụng gỗ với độ ẩm cân bằng phù hợp Với điều kiện sử dụng. Để bảo vệ gỗ khỏi bị ẩm ướt người ta thường dùng phương pháp sơn phủ bằng các hỗn hợp từ vôi, muối và keo hoặc các thành phân khác.
Tính dân nhiệt. Khả năng dẫn nhiệt của gỗ không lớn và phụ thuộc vào độ rỗng, ctộ ẩm và phương của thớ, loại gỗ, công như nhiệt độ. Gỗ dẫn nhiệt theo phương dọc thớ lớn hơn theo phương ngang 1,8 lần. Trung bình hệ số dẫn nhiệt của gỗ là 0,14 – 0,26 kcal/m.°c.h. Khi khối lượng thể tích và độ ẩm của gỗ tăng tính dẫn nhiệt cũng tăng.
Tính truyền âm. Gỗ là vật liệu truyền âm tôt. Gỗ truyền âm nhanh hơn không khí 2-17 lần. Âm truyền dọc thớ nhanh nhất, theo phương tiếp tuyến chậm nhất.
Tính Ổn định của gõ trong các môi trường axit và kiềm. Khi bị axit và kiềm tác dụng lâu dài thì gỗ bị phá hoại: nồng độ càng lớn phá hoại càng nhanh. Dung dịch kiẻm yếu không phá hoại gõ. Trong dung dịch axit gỗ bắt đầu bị phá hoại khi pH < 2 (bêtông bị phá hoại khi pH < 4). Trong đó gỗ lá kim bền hơn gỗ lá rộng. Trong nước biển gỗ kém bền hoii trong nước ngọt. Trong nước có chứa vi khuẩn độ ổn định của gỗ thấp.
Khối lượng riêng đối với mọi loại gỗ thường như nhau và giá trị trung bình của nó là 1,54 g/cm3.
Khối lượng thể tích của gỗ phụ thuộc vào độ rỗng (độ rỗng của gỗ lá kim: 46 – 81%, gỗ lá rộng: 32 – 80%) và độ ẩm. Người ta chuyển khối lượng thể tích của gỗ ở độ ẩm Ị bất kì (W) về khôi lượng thể tích ở độ ẩm tiêu chuẩn (18%) theo công thức:
PỈ8 = p^[l +0,01(1 – 1^X18 -W)]
Trong đó:
và pỳ8 – khối lượng thể tích của gỗ có độ ẩm w và độ ẩm 18%;
Ko – hệ số co thể tích.
Dựa vào khối lượng thể tích, gỗ được chia ra 5 loại: gỗ rất nhẹ (pv < 400 kg/m3), gỗ nhẹ (pv = 400 – 500 kg/m3), gỗ nhẹ vừa (pv = 500 – 700 kg/m3), gỗ nặng (pv = 700 – 900kg/m3) và gỗ rất nặng (pv > 900 kg/m3). Những loại gỗ rất nặng như gỗ nghiến (pv = 1100 kg/m3), gỗ sến (pv = 1080 kg/m3); những loại gỗ rất nhẹ như: gỗ sung, gỗ muồng trấng.
Màu sắc và vân gỗ. Mỗi loại gỗ có một màu sắc khác nhau. Căn cứ vào màu sắc có thể sơ bộ đánh giá phẩm chất và loại gỗ. Thí dụ: gỗ gụ, gỗ mun có màu sẫm và đen; gỗ sến, táu có màu hồng sẫm; gỗ thông, bồ đề có màu trắng. Màu sắc của gỗ còn thay đổi tuỳ theo tình trạng sâu nấm và mức độ ảnh hưởng của mưa gió. Vân gỗ cũng rất phong phú và đa dạng.
Vân gỗ cây lá kim đơn giản, cây lá rộng phức tạp và đẹp (lát hoa có vân gợn mây, lát chun có vân óng ánh như vỏ trai). Gỗ có vân đẹp được dùng làm đồ mĩ nghệ.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *