Thí nghiệm theo mẫu hình trụ

TT Các chỉ tiêu Yêu cầu đối với bêtông asíalt loại Phương pháp thí nghiệm
a) Thí nghiệm theo mẫu hình trụ
Độ rỗng cốt liệu khoáng chất, % 15 – 19 15 – 21 Quy trình
2 Độ rỗng còn dư, % 3-6 3 I 6 thí nghiệm bêtông
3 Độ ngâm nước, % 1,5 – 3,5 1,5- 4,5 asíalt
4 Độ nở, % không lớn hơn 0,5 1,0
5 Cường độ chịu nén, daN/cm2, ở nhiệt độ:
+20°c không nhỏ hơn 35 25
+50°c không nhỏ hơn 14 12
6 Hệ số Ổn định nước, không nhỏ hơn 0,90 0,85
Trong một sô trường hợp để tăng chất lượng có thể cho thêm một phần đá mạt (M%).
Hỗn họp vật liệu khoáng được lựa chọn có tổng tỉ lệ thành phần như sau:
Đ + C + B + M= 100%
hoặc Đ + c + B = 100% (không có đá mạt)
Lượng lọt qua sàng của hỗn hợp vật liệu khoáng Lx được xác định theo công thức sau:
Lx = ^í-Đ + -^-M + vặSỊ +
100 100 100 100
Trong đó: Đx, Mx, Cx và m I lượng lọt qua sàng kích thước X (mm) của đá, đát mạt, cát và bột đá.
Xác định lượng đá dăm: Tỉ lệ thành phần của đá dăm được xác định theo công thức sau:
Đ = —. 100%
Trong đó: Ax, Ad là lượng sót tích luỹ tại cỡ hạt X của hỗn hợp hợp lí theo quy phạm và của đá dăm.
Xác định lượng bột khoáng: Tỉ lệ phần trăm của bột khoáng (có cỡ hạt < 0,07 lmm) được xác định theo công thức sau (phần cát và đá mạt có cỡ hạt < 0,07 lmm cũng được coi là bột khoáng):
B = . 100% ® 0,071
Trong đó: Y0071 và B007Ị là lượng hạt nhỏ hơn 0,071 của hỗn hợp vật liệu hợp lí và của bột khoáng.
Xác định lượng cát và đá mạt:
Tổng tỉ lệ phần trăm của cát và đá mạt được tính như sau:
c + M = 100 – B – Đ
hoặc c = 100 – B – D
Từ kết quả tính toán và thành phần vật liệu thực tế, tiến hành tính toán lại trị số Lx với tất cả các cỡ hạt. So sánh đường biểu diễn Lx với thành phần hạt khoáng vật hợp lí. Yêu cầu Lx phải phù hợp với giới hạn thành phần của hỗn hợp họp lí theo quy phạm. Nếu thành phần chọn được không hợp quy phạm thì có thể điều chỉnh lại các lượng vật liệu để có Lx hợp quy phạm.
Xác định lượng bitum tối ưu
Lượng bitum tối ưu được tính toán theo chỉ tiêu độ rỗng của hỗn hợp vật liệu khoáng của các mẫu thí nghiệm bêtông asfalt và độ rỗng còn dư cửa bêtông asfalt theo quy định ở quy phạm.
Chuẩn bị các mẫu thí nghiệm từ hỗn hợp bêtông asíalt, trong đó lượng bitum dùng giảm đi 0,3 – 0,5% so với giới hạn dưới của các trị số trong bảng. Lượng bitum tối ưu được xác định theo công thức sau:
Trong đó:
V£ I độ rỗng vật liệu khoáng của mẫu thí nghiệm, %;
Pk – khối lượng riêng của vật liệu khoáng g/cm ;
vk – trị số độ rỗng của bêtông asfalt theo quy phạm ở 20°c, %;
PB – khối lượng riêng của bitum ở 20°c, g/cm3.
Kiểm tra trên các mẫu thí nghiệm
Kết quả tính toán lượng bitum sẽ dùng để chế tạo ba mẫu thử và kiểm tra lại các tính năng cần thiết của bêtông asíalt. Nếu chỉ tiêu độ rỗng không đảm bảo các chỉ tiêu khác (ví dụ cường độ, độ ổn định nước) thì điều chỉnh lại thành phần vật liệu khoáng, chủ yếu là lượng bột khoáng. Sau đó tính lại lượng B và làm lại theo trình tự trên cho đến lúc đạt mọi yêu cầu quy định.
12.6.6. Công nghệ chế tạo bêtông asfa.lt
Công nghệ chế tạo bêtông asfalt hoàn toàn phù hợp với các nguyên tắc của công nghệ vật liệu nhân tạo. Tuy nhiên công nghệ này có một số điểm khác nhau khi chế tạo các dạng bêtông asfalt khác nhau.
Nguyên tắc chung
Trong giai đoạn chuẩn bị, nguyên liệu đá dăm (sỏi), cát cần được sấy khô và nung đến nhiệt độ phù hợp với độ nhớt của bitum. Bitum cần phải đun đến nhiệt độ thi công. Nhiệt độ nung bitum từ 140° – 200°c tuỳ theo độ quánh của bitum và loại bêtông asíalt (nóng, ấm…).
Trộn vật liệu khoáng với bitum có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng bêtông. Việc trộn bêtông asfalt được tiến hành theo 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1 (trộn khô). Đá dăm nóng, cát nóng được trộn với bột khoáng (không nung nóng). Các hạt bột khoáng sẽ bọc bề mặt cát, đá để tăng độ hoạt tính bề mặt cho cốt liệu.
Giai đoạn 2 Trộn hỗn hợp khoáng với bitum đến nhiệt độ thi công trong thời gian quy định, với máy trộn tự do I khoảng 450 I 500 gy; máy trộn cưỡng bức 1 khoảng 50 -150 gy tuỳ theo loại bêtông asíalt.
Vận chuyển và rải bêtông asfalt tại nơi công tác. Yêu cầu nhiệt độ bêtông asfalt phải đảni bảo đạt nhiệt độ thi công khi bắt đầu rải và đầm chắc. Để đảm bảo chất lượng lớp phủ mặt đường cần chế tạo bêtông ở những xưởng bêtông asíalt cố định.
Xưởng chế tạo bêtông asfalt
Xưởng chế tạo bêtông asfalt bao gồm 4 bộ phận: phân xưởng đá dăm (sỏi) và cát, phân xưởng chế tạo bột đá, phân xưởng bitum và phân xưởng nhào trộn. Trong đó bộ phận nhào trộn là bộ phận cơ bản nhất. Công việc nhào trộn được tiến hành tại các trạm trộn nóng được trình bày trên hình 12.15.
/2.6.5. Cầm mác của bêtông
Tính chất vật lý, cơ học cửa bêtông ạsíali phụ thuộc vào chất lượng, tì lệ thành phần các vật liệu chế tạo và cấu trúc của bêtông. Cấu trúc phụ thuộc vào tỉ lệ cửa các vật liệu và độ đặc của hỗn hợp.
Cấu trúc của bêtông asíalt có bai loại: có khung và không có khung. Cấu trúc khung cấu trúc trong đo lấp đầy 16 rỗng giữa các hạt của bộ khung cát, dà dầm bằng chất kết dính asfalt là nhỏ hơn hoặc bằng 1. Như vậy, các chất kết dính asfalt không dễ chuyển động, những hạt đá dăm và cát tiếp xúc với nhau một cách trực tiếp hoặc thông qua lớp bitum tạo cấu trúc. Bộ khung có thể chỉ là đá dăm. Trong trường hợp này đá dăm không được chuyển động cùng với hỗn hợp vữa (gồm cát, bột khoáng, bitum). Sự có mặt các khung cứng không gian làm tăng độ ổn định động của lớp phủ mặt đường. Cấu trúc khung quen thuộc thường chứa lượng bột khoáng từ 4 – 14% và lượne bitum từ 5 – 7%.
Trong bêtông asfalt không khung, hạt đá dăm và cát bị dịch chuyển do lượng thừa của chất kết dính asfalt (hệ sô” lấp đầy lỗ rỗng lớn hơn 1). Cường độ và độ dính kết của cấu trúc này giảm khi chịu nhiệt làm cho lớp phủ mặt đường bị biến dạng dẻo.
Sự tạo nên cấu trúc tối ưu của bêtông asfalt phụ thuộc thành phân, chất lượng vật liệu, công nghệ sản xuất và việc lựa chọn tối un thành phần hỗn hợp bêtông asfalt.
12.6.6. Thiết kế thành phần bêtông as fait
Mục đích của việc thiết kế thành phân bêtông là lựa chọn được một dạng (nóng, ẩm, nguội và loại (A, B, …) bêtông tương ứng với điều kiện làm việc (vùng khí hậu, đặc tính chịu tải) với loại vật liệu khoáng, loại và hướng bitum tối un, với tỉ lệ giữa các thành phần thoả mãn với các yêu cầu quy định.
Có nhiều phương pháp thiết kế thành phần bêtông asfalt. Song phổ biến nhất, cho kết quả tin cậy nhất là phương pháp dựa trên cơ sở lí thuyết về đường cong độ đặc hợp ỉí của hỗn hợp vật liệu khoáng. Đó là phương pháp kết hợp tính toán với thực nghiệm.
Trình tự thiết kế thành phần bêtông asfalt như sau: Lựa chọn và kiểm tra vật liệu, xác định tỉ lệ của các vật liệu theo thành phần cấp phối hạt, lựa chọn thành phần bitum tối ưu và thí nghiệm kiểm tra các chỉ tiêu kĩ thuật trên các mẫu thử.
Lựa chọn thành phần vật liệu khoáng để chế tạo bêtông asfalt
Vật liệu sử dụng phải phù hợp với loại, dạng bêtông và đạt các yêu cầu về tính chất cơ học, tính ổn định nhiệt và tính chống ăn mòn, đồng thời phải phù hợp với yêu câu cầu của quy phạm.
Thành phần cấp phối hạt theo quy phạm được giới thiệu trên hình 12.13 12.14 và bảng 12.17, 12.18.
Thành phần vật liệu khoáng trong bêtông asfalt thông thường gồm 3 loại: đá dăm cát, bột khoáng với tỉ lệ là

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *