Tính chất của CKDHC dạng lỏng

Khi nhào trộn CKD với vật liệu khoáng, các hạt khoáng được thấm ướt bằng CKD và tạo thành một lớp hấp phụ. Khi đó các phân tử CKD ở trong lớp hấp phụ sẽ lương lác vơi các phần tử của vật liệu khoáng ở lớp bề mặt. Tương tác đó có thể là tương tác lí học hay hoá học.
Lực liên kết hoá học lớn hơn rất nhiều so với lực liên kết lí học, do đó khi CKD tương tác hoá học với vật liệu khoáng thì cường độ liên kết sẽ lớn nhất.
Liên kết của CKD với vật liệu khoáng trước hết phụ thuộc vào tính chất của CKD. Chất kết dính có sức căng bồ mặt càng lớn, nghĩa là có độ phân cực càng lớn, thì liên kết với vật liệu khoáng càng tốt.
Độ phân cực của CKD phụ thuộc vào hàm lượng nhỏm chất nhựa, đặc biệt là nhựa axit. Chất kết dính chứa nhóm chất nhựa càng nhiều sự liên kết của nó với vật liệu khoáng càng tốt.
Liên kết của CKD với vật liệu khoáng còn phụ thuộc vào bản chất của vật liệu khoáng. Các loại đá bazơ liên kết với CKD tốt hơn các loại axit, vì có thể xảy ra liên kết hoá học.
Mức độ liên kết của CKD với bề mặt vật liệu đá hoa có thể đánh giá theo độ bền của màng CKD trên bồ mặt đá hoa khi nhúng trong nước sôi. Nếu sau khi thí nghiệm, hơn 2/3 bồ mặt của hạt đá hoa vẫn được CKD bao bọc thì độ liên kết của CKD với bề mặt đá hoa là tốt.
Thực tế khi chế lạo hỗn hợp CKD và vật liệu khoáng, người ta dùng nhiều loại đá khác nhau, do đó mức độ liên kết của nó cũng có thể khác nhau. Để đánh giá mức độ liên kết của CKD trong trương hợp này cũng tiến hành theo nguyên tắc tương tự. Sau khi thí nghiệm, đem kết quả so sánh với thang đánh giá chỉ tiêu liên kết ghi ở bảng 12.2.
Bảng 12.2
Đặc trưng của màng CKD trên bề mặt vật liệu khoáng Chỉ tiêu liên kết
Phần đá không chứa hụt nhỏ hơn 0,7 Imm Phần đá chứa hạt không nhỏ hơn 0,71 mm
Màng CKD được giữ hoàn toàn
Màng CKD bị thay đổi; một số hạt hay từng chỗ trên mặt hạt bị bóc tràn (gần 50% )
Màng CKD bị thay đổi hoàn toàn hay hầu như hoàn loàn; các hạt đá bị bóc trần hết; CKD tạo thành từng giọt nhó hay nổi lên mặt nước Màng CKD được giữ hoàn toàn; nước không bị đục Màng CKD thay đổi đáng kể, nhứng hạt lớn bị bóc trần (gần 50%); nước bị đục do một bộ phận các hạt nhỏ bị rửa sạch Màng CKD bị thay đổi phần lớn hay hoàn toàn; nhìn thấy CKD tạo thành từng giọt nhỏ hoặc nổi lên mặt nước; nước bị đục hoàn toàn. Tốt Trung bình Xấu
 Trong trường hợp độ hoạt tính của CKD thấp, sự liên kết với bề mặt vật liệu khoáng kém, thì cần cho thêm các phụ gia hoạt động bề mặt như axit sunfua naítalen, xà phòng ba rượu suníit, clorua sất.
12.3.2. Tính chất của CKDHC dạng lỏng
Độ nhớt
Củng như CKD dạng quánh, độ nhớt của CKD dạng lỏng phụ thuộc vào thành phân của các nhóm hoá học và tỉ lệ giữa lượng chất rắn và chất lỏng đùng để pha loãng. Khi trong CKD chứa nhiều nhóm chất nhựa, chất rắn và chứa ít nhóm chất dầu thì độ nhớt của nó tăng lên.
Độ nhớt của CKD lỏng được xác định bằng nhớt kế (hình 12.8). Độ nhớt của CKD lỏng đặc trưng bằng thời gian để 50mỉ CKD lỏng chảy qua lỗ đáy của dụng cụ có đường kính 5mm, ở nhiệt độ 60°c.
Phần cất (thành phẩn dễ bay hơi)
Sô lượng và chất lượng phần cất là chỉ tiêu gián tiếp biểu thị tốc độ đông đặc lại của CKD lỏng ở mặt đường. Nếu CKD lỏng chứa nhiều thành phần này và nó có nhiệt độ sôi thấp thì quá trình đông đặc của CKD sẽ nhanh. Để xác định phần cất của CKD lỏng cần cất ở các nhiệt độ khác nhau: 225°, 315° và 360°c. Tính chất của phần còn lại sau khi cất đến nhiệt độ 360°c sẽ đặc trung cho loại CKD lỏng và tính chất của nó trong thời gian sử dụng ở mặt đường.
Các tính chất này được xác định như với CKD đặc quánh.
Có thể xác định khả năng thi công (đặc lại) của CKD lỏng bằng chỉ tiêu lượng bay hơi (%) khi nung CKD lỏng từ 60° đến 100°c và thời gian 1 + 5 giờ tuỳ loại CKD lỏng.
Chỉ tiêu này gần sát thực tế hơn chỉ tiêu phần cất nêu ở trôn.
12.3.3. Nhữ tương
Nho tương là một hệ thống keo phức tạp gồm hai chất lỏng không hoà tan lẫn nhau. Trong đó, một chất lỏng phân tán trong chất lỏng kia dưới dạng những giọt nhỏ li ti, gọi là pha phân tán, còn chất lỏng kia gọi là môi trường phản tán.
Nếu pha phân tán là bitum hay guđrông, còn mồi trường phân tán là nước thì gọi là nhũ tương dầu – nước (DN), hay còn gọi là nhũ tương thuận.
Nếu pha phân tán là những giọt nước, còn CKD là môi trường phân tán, thì gọi
nho tương nước – dầu (ND), hay còn gọi là nho tương nghịch. 
Để cho nhũ tương được ổn định người ta cho thêm vào chất nha hoá I chất phụ gia hoạt tính bề mặt. Chất nhũ hoá sẽ hấp phụ trên bề mặt các giọt CKD làm giảm sức căng bề mặt ở mặt phân chia của CKD với nước. Đồng thời nó tạo ra trên bề mặt các giọt bitum một màng mỏng kết cấu bền vững, có tác dụng ngăn cản sự kết tụ của chúng, làm cho nhũ tương ổn định.
Những phân tử của nó bao gồm phần không mang cực tính là những gốc hiđro cacbua và phần có mang cực tính. Chất này có khả năng hấp thụ trên bề mặt giọt CKD làm cho nhũ tương ổn định, vì khi đó gốc hiđro cacbua nhóm không mang cực tính, là nhóm kị nước, nên nó luôn luôn hướng đến pha có cực tính nhỏ hơn – hướng vào CKD; còn nhóm có cực tính, là nhóm ưa nước, thì hướng vào nước. Do cấu trúc phân tử của chất hoạt tính bề mặt không đối xứng như vậy, nên ở lớp bề mặt, chúng định hướng phù hợp với quy luật cân bằng cực tính và làm giảm sức căng bề mặt ở mặt phân chia giữa nước và CKD tức là nó làm giảm sự khác nhau về sức căng bề mặt của CKD và nước.
Chất nhũ hoá được chia ra các loại anion hoạt tính, cation hoạt tính và loại không sinh ra ion.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *