Tính chất hoá lí của CKDHC

Cấu trúc sol đặc trưng cho bitum có hàm lượng chất dâu và chất nhựa lớn. Khi đó các mixen không tạo ra được tác dụng tương hỗ lẫn nhau và chuyển động tự do trong Nôi trường dầu, cấu trúc soi có ở bitum lỏng và bitum quánh nấu nóng chảy.
Khi tỉ lệ asfalt trong bitum lớn sẽ tạo nên cấu trúc gel. Trong cấu trúc gel các hạt nhân aisfalt mở rộng ra, các mixen xích lại gần nhau và có tác dụng tương hỗ lẫn nhau, lạo nên mạng cấu trúc không gian. Cấu trúc đó tạo ra tính đàn hôi cho chût kêt CỈÍI^ I va là đặc trưng cho cấu trúc cứng ở nhiệt độ thấp.
Cấu trúc sol – gel đặc trưng quánh ở nhiệt độ thường. Ở cấu trúc này vật liệu Có tính chất đàn hồi dẻo và tính nhớt.
12.2.3. Tính chất hoá lí của CKDHC 
Độ phân cục. Độ phân cực đặc trung bằng các tính chất vật lí khác nhau như: sức càng bé mặt, sự thấm ướt nhựa, tính dẫn nhiệt v.v…
Độ phân cực a được biểu thị bằng tỉ lệ giữa độ hoà tan của CKDHC trong dung môi là chất phân cực và chất không phân cực.
Trong đó:
A – độ hoà tan của bitum và guđrông trong rượu mêtilic, %;
B – độ hoà tan của bitum và guđrông trong benzen, %.
Độ phân cực của bitum dầu mỏ từ 5 – 35%, bitum đá dâu từ 50 I 70%, guđrông than đá từ 45 – 95%.
Độ phân cực (hệ số hoà tan) của bitum cao dẫn đến sức căng bề mặt lớn, chất kết dính sẽ liên kết tốt với vật liệu khoáng.
Sức căng bề mặt: Ở nhiệt độ 20 I 25°c sức căng bề mặt 25 I 35 erg/cm2. Việc xác định sức căng bề mặt của CKD khá phức tạp. Vì vậy theo đề nghị của viện p. A.
Rebinđer, có thể xác định độ hoạt tính bề mặt của nó thông qua độ hoà tan của CKD
vào nước làm giảm sức căng bề mặt ở mặt phân chia của nước với CKD cao hay thấp phụ thuộc vào độ phân cực của các phân tử. Các phân tử của chất hoạt tính bề mặt bao gồm phần không có cực là những gốc cacbua hiđrô thí dụ CH31 CHt – CHi I… và phần có cực tính như – COOH, I OH, I NH2, I SH… Khi trộn hai chất lỏng có cực và không cực với nhau, ở mặt phân chia hai chất lỏng các phân tử của chất hoạt tính bề mặt sê định hướng theo một quy luật nhất định: nhóm có cực của phân tử hướng vào chất lỏng phân cực, còn nhóm không có cực sẽ hướng vào chất lỏng không phân cực. Lượng chất có cực trong chất dính kết có ảnh hưởng lớn đến khả năng thấm ướt và tính liên kết với vật liệu khoáng.
Tính thấm ướt vật liệu khoáng. Tính thấm ướt vật liệu khoáng của chất kết dính phụ thuộc vào lượng các chất hoạt tính bé mặt có cực và tính chất của vật liệu khoáng.
Tính thấm ướt đuợc đặc trưng bằng góc thấm ướt. Đó là góc giữa bề mặt vật liệu khoáng và tiếp tuyến với bẻ mặt giọt chất kết dính tại ranh giới tiếp xúc với vật liệu
Nếu góc thấm ướt càng nhọn tính thấm ướt càng tốt. Khi đó lực hút phân tử giữa chất dính kết và bề mặt vật liệu khoáng gần bằng lực hút phùn tử bên trong chất dính- Nếu như góc thấm ướt lớn thì tính thấm ướt kém, lực hút phân tử với bề mặt vật liệu khoáng yếu. Vì vậy, chất kết dính càng thấm ướt tốt vật liệu khoáng thì lực hut phân tử trong chung càng yêu và lực dính bám giữa chất kết dính với bề mặt vật liệu Khoáng càng mạnh. Do đó sự dính bám với vật liệu khoáng phụ thuộc vào các tính chất hoá lí» vào số nhóm chức hoạt tính, cực tính và sức căng bế mặt
Những vật liệu khoáng ghét nước (thấm ướt nước kém) là nhửng vật liêu dính bám CKDHC tốt.
Các tính chất vật lí trên có liên quan chặt chẽ với các tính chất kĩ thuật của chất kết dính.
12.1. Tính chất lưu biến của CKDHC
CKDHC (bitum và guđrông) có vị trí trung gian giữa các chất đàn hồi và chất lỏng. Vì vậy, dưới sự tác động của tải trọng, chúng đồng thời phát sinh biến dạng đàn hồi (thuận nghịch) và biến dạng dẻo (không thuận nghịch). Những loại vật liêu như vậy được gọi là vật liệu đàn hồi dẻo hoặc vật liệu dẻo quánh và được đánh giá bằng các mô hình lưu biên của Maxoen, Kenvin… Tính chất lưu biến của CKDHC phụ thuộc chu yếu vào cấu trúc và thành phần nhóm của chúng.

12.3.1 Tính chất của CKDHC đọng quánh
Tính quánh (nhớt)
Tính quánh của CKDHC thay đổi trong phạm vi rộng. Nó ảnh hưởng nhiều đến các tính chất cơ học của hỗn hợp vật liộu khoáng với chất kết dính, đồng thời quyết đinh công nghệ chế tạo và thi công loại vật liệu có dùng CKDHC
Độ quánh của CKDHC phụ thuộc vào hàm lượng các nhóm cấu tạo và nhiệt độ của môi trường. Khi hàm lượng nhóm asfalt tăng lên và hàm lượng nhóm chất dầu giảm độ quánh của bitum tăng lên. Khi nhiệt độ b
của môi trường tăng cao, nhóm chất nhựa sẽ
bị chảy lỏng, độ quánh của CKD giảm xuống. Để đánh giá độ quánh của CKDHC người ta dùng chỉ tiêu độ cắm sâu của kim (trọng lượng lOOg, đường kính lmm) của dụng cụ tiêu chuẩn (hình 12.3) vào CKD ở nhiệt độ 25°c trong 5 giây. Độ kim lún kí hiệu là p, đo bằng độ (1 độ bằng 0,lmm). Trị số p càng nhỏ độ quánh của CKD càng cao.
Tính dẻo
Tính dẻo đặc trưng cho khả năng biến dạng của CKD dưới tác dụng của ngoại lực.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *